Wednesday, August 8, 2012

Trứng ngỗng có tốt cho thai nhi?


Chưa có công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào khẳng định phụ nữ mang thai nếu ăn trứng ngỗng thì con thông minh, hoặc tốt cho thai nhi hơn các trứng gia cầm khác.

Về giá trị dinh dưỡng, trứng ngỗng có protein 13,5% (so với trứng vịt 11,8% và trứng gà 12,5%); lipid 13,2% (so với trứng vịt 13,5% và trứng gà 11,6%). Như vậy trứng ngỗng có nhiều protein hơn trứng gà, trứng vịt; còn lipid thì nhiều hơn trứng gà.


Trứng ngỗng cũng chứa các loại vitamin như: Vitamin A: 0,28; vitamin B1: 0,09; vitamin B2: 0,26; vitamin PP: 0,10.


Tương ứng trong trứng gà là 0,60; 0,14; 0,24; 0,20 và trong trứng vịt là 0,32; 0,13; 0,26; 0,10. Như vậy về vitamin trứng ngỗng đều có ít hơn trứng gà, mà vitamin A lại rất cần cho phụ nữ có thai.


Thực chất trứng gà mới là thực phẩm có giá trị. Bách khoa toàn thư về thức ăn và dinh dưỡng của Mỹ viết: Trứng gà là một kỳ tích của thiên nhiên, là một trong những thức ăn hoàn thiện nhất mà nhân loại đã biết. Thành phần các chất protein, lipid, glucid, các vitamin và chất khoáng trong trứng gà có tỷ lệ phối hợp rất hợp lý, giúp bồi dưỡng sức khỏe rất tốt.


Trứng gà cũng được y học cổ truyền dùng làm thuốc bổ dưỡng. Đông y gọi lòng đỏ trứng gà là “kê tử hoàng”, có vị ngọt tính ấm, đi vào 3 kinh tâm, tỳ, vị, có công dụng dưỡng âm, minh tâm, vỗ tỳ vị, trị mất ngủ do âm hư, nôn mửa do vị khí nghịch... Trong nhân dân, ngày xưa khi đi thăm người mang thai, sinh nở cũng thường đem theo chục trứng gà làm quà để sản phụ ăn cho bổ.


Những điều bạn nghe nói về trứng ngỗng là không có cơ sở khoa học cả về y học cổ truyền và hiện đại. 

Các bà bầu nên ăn gì, uống gì?


Sinh lý cơ thể của phụ nữ trong thời kỳ mang thai có một số thay đổi đặc biệt. Sự thay đổi đó, đòi hỏi được bù đắp bằng ăn uống cho người mẹ. Do vậy, phụ nữ mang thai phải đặc biệt chú ý việc ăn uống, bởi nó không chỉ liên quan đến sức khỏe của người mẹ mà còn rất quan trọng đối với sự phát triển của thai nhi...

Sau đây là một số món ăn thông dụng theo Đông y của lương y Trần Khiết (giảng viên khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Y-Dược TP.HCM):


- Gan gà đem chưng với rượu, hoặc thịt gà mái đen nấu với gạo tẻ, ăn sẽ có tác dụng an thai.

- Lòng đỏ trứng gà luộc với rượu ăn có tác dụng an thai và ngừa được một số bệnh khác.


- Gạo nếp làm men rượu: Thức ăn chữa được tình trạng động thai.


- Cá chép nấu cháo: Món ăn chữa được chứng phù và an thai.


- Cháo gạo tẻ: Đem lại dinh dưỡng tốt và an thai.


- Giá đậu đỏ: Bột giá đậu đỏ uống với ít rượu ấm trị được lậu thai (thai mấy tháng vẫn có lúc ra máu, do huyết quá nóng hoặc gần chồng làm tổn hại thai).

Tất cả những món trên, phụ nữ mang thai có thể dùng làm thức ăn mỗi ngày rất tốt. Ngoài ra, phụ nữ mang thai không nên ăn thức ăn có độc, thức ăn không đảm bảo vệ sinh, thì sinh con mới thông minh. Thời hậu Hán, trong Kim quỹ yếu lược của Trương Cơ có ghi một số điều cấm kỵ trong ăn uống đối với phụ nữ mang thai. Chẳng hạn, gừng, thịt thỏ, thịt sơn dương, mỡ nai, mỡ hươu đều nên kiêng cữ.


Ngoài ra, trong sách xưa Đạt sanh biên còn đề cập rằng: Phụ nữ có thai không nên ăn chất béo nồng, kích thích mạnh, thức ăn nước uống quá đậm đặc, chất cay nóng, tránh ăn quá béo, quá ngọt, hay quá mặn và phải biết sống thanh thản; sự vui buồn, lo âu sợ sệt quá mức sẽ tổn hại đến nội tạng của thai phụ. Ngoài việc ăn uống điều độ, trong các liệu pháp phòng bệnh ở phụ nữ mang thai còn khuyên nên giảm bớt tình dục trong thời kỳ mang thai.

Những món sau cũng nên hạn chế với bà bầu:


Quẩy

Khi làm quẩy, người ta phải đưa vào một lượng nhất định phèn chua, mà phèn chua chứa nhôm - một chất vô cơ. Khi rán quẩy, cứ 500 g bột mì phải dùng 15 g phèn chua. Phụ nữ mang thai cứ mỗi ngày ăn 2 chiếc quẩy sẽ đưa vào cơ thể 3 g phèn chua. Nếu ăn nhiều, lượng nhôm tích lũy sẽ lớn, làm cho não thai kém phát triển, tăng nguy cơ bệnh đần độn.


Nhãn


Nhãn, đặc biệt là long nhãn, luôn được người ta coi là thức ăn tẩm bổ tốt. Nhưng đối với phụ nữ mang thai, nó là quả cấm. Long nhãn tính ôn, vị ngọt, rất dễ trợ hỏa, phụ nữ mang thai ăn vào sẽ tăng nhiệt cho thai, dễ gây ra khí huyết không điều hòa, làm cho vị khí ngược lên, dẫn đến nôn mửa. Nếu dùng lâu sẽ hại đến âm, xuất hiện hiện tượng nhiệt, đau bụng, xuất huyết. Đấy là những dấu hiệu báo trước việc sẩy thai, sinh non.


Nước cola


Theo phân tích, một chai cola 340 g có 50-80 mg caffeine. Mỗi lần uống 1 g chất này, thai phụ có thể bị hưng phấn trung khu thần kinh trung ương, làm tăng nhịp thở, tim đập nhanh, mất ngủ, hoa mắt, ù tai. Dù uống dưới 1 g, nó vẫn kích thích niêm mạc dạ dày, gây buồn nôn, nôn mửa, hoa mắt, tim hồi hộp, đó là các triệu chứng trúng độc. Nhân cà phê còn có thể nhanh chóng đi qua cuống nhau, ảnh hưởng đến thai nhi.


Rau chân vịt


Mục đích của phụ nữ có thai ăn rau chân vịt là nhận được nhiều chất sắt, đề phòng thiếu máu (do thiếu sắt) trong thời kỳ mang thai. Có người cho rằng ăn được càng nhiều rau chân vịt thì càng ít nguy cơ bị thiếu máu. Kỳ thực không phải như vậy.


Một nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy, rau chân vịt làm tình trạng thiếu máu nặng thêm. Nguyên nhân, do rau chân vịt có nhiều axít trong cỏ, làm cho chất sắt của nó không được ruột non hấp thu, thậm chí còn bị đẩy ra khỏi cơ thể. Ăn rau chân vịt càng nhiều càng gây trở ngại cho việc thu chất sắt, khiến tình trạng thiếu máu nặng thêm.


Sơn tra (táo mèo)


Sơn tra giá trị dinh dưỡng cao, lại có công hiệu tiêu hóa thức ăn và khai vị. Nó vừa chua vừa ngọt, rất "vừa miệng" đối với bà bầu. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai không nên ăn nhiều loại quả này. Có tài liệu đã chứng tỏ, sơn tra làm hưng phấn tử cung, có thể thúc đẩy tử cung co bóp, gây sẩy thai và sinh non.

Thức ăn xông khói, nướng


Các thực phẩm loại này phải dùng gỗ, than làm chất đốt để chế biến. Nhiên liệu đốt lên sẽ tán phát ra một loại chất độc làm ô nhiễm các thức ăn được xông nướng. Chất độc này có thể gây ra ung thư. Cứ mỗi kg cá xông và thịt nướng có tới mấy chục mg chất độc này, cứ mỗi kg bánh thịt nướng có 79 mg chất độc.


Gan động vật


Gan động vật giàu sắt và vitamin A. Nếu phụ nữ mang thai ăn quá nhiều gan động vật, đặc biệt là khi dùng các viên thuốc bổ sung sinh tố khác, lượng vitamin A được đưa vào cơ thể sẽ quá nhiều, ảnh hưởng xấu đến thai nhi, thậm chí gây quái thai.


Ngoài ra, gan làbộ máy giải độc, là “kho” chứa chất độc lớn nhất trong cơ thể động vật. Một số chất độc đó khi ăn vào có thể ảnh hưởng xấu tới phụ nữ mang thai và thai nhi.

Tại sao Bà bầu nên hạn chế ăn lẩu


Món lẩu không tốt cho bà bầu vì có thể làm tổn thương hệ tiêu hóa và gây nhiễm ký sinh trùng. Ngoài ra, phụ nữ có thai cũng nên hạn chế các thực phẩm như quẩy, nhãn, gan động vật...

Các nghiên cứu y học chứng tỏ, ăn lẩu có nhiều cái hại, đặc biệt đối với phụ nữ mang thai. Món lẩu nhúng chưa kỹ có thể dẫn đến các bệnh về ký sinh trùng như sán lá. Đối với phụ nữ mang thai, hệ thống tiêu hóa bị kích tố sinh dục làm ảnh hưởng, cơ trơn của dạ dày và đường ruột bị giảm sút trương lực, nhu động ruột bị giảm ít hoặc yếu đi. Việc ăn lẩu dễ làm tổn thương dạ dày và đường ruột. Do đó, thai phụ không nên ăn lẩu nhiều.

Một số vitamin cần cho thai phụ


Mặc dù một chế độ ăn cân đối có thể đáp ứng hầu hết nhu cầu dinh dưỡng cho phụ nữ có thai, nhưng nhiều chuyên gia về dinh dưỡng vẫn khuyên dùng thêm vitamin, đặc biệt là acid folic.

Ngoài ra còn nhiều vitamin khác cũng rất cần thiết đối với phụ nữ mang thai.


Vitamin B9 (acid folic): đôi khi còn gọi là folate, có nhiều tác dụng quý giá. Cần cho sự phát triển của bào thai.


Bổ sung từ tháng thứ 6 thì cân nặng thai nhi lúc sinh sẽ tăng lên đáng kể. Acid folic và vitamin B12 cần cho sự trưởng thành của hồng cầu nên thiếu các yếu tố này sẽ bị thiếu máu.


Một trong những điều quan trọng nhất mà người phụ nữ có thể làm được để tránh cho thai nhi bị khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng là sử dụng acid folic hằng ngày - đặc biệt là trước khi thụ thai và trong giai đoạn đầu của thai nghén.


Acid folic có chủ yếu trong rau xanh, nhất là rau lá màu xanh lục đậm, trong cà chua, cà rốt, men bia, gan, trứng, quả bơ, vừng (còn vỏ lụa)... Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ dùng 400 microgam mỗi ngày trước khi thụ thai và trong giai đoạn sớm của thai nghén giảm được đến 70% nguy cơ bị khuyết tật nghiêm trọng của thai nhi.


Một cuộc khảo sát cho thấy, chỉ có 7% phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Mỹ biết rằng acid folic cần uống trước khi có thai để phòng ngừa khuyết tật bẩm sinh.


Khuyết tật thường gặp nhất là hở ống tủy sống, tiếp theo là vô sọ và cuối cùng là não lòi ra ngoài hộp sọ. Tất cả những khuyết tật này xảy ra trong 28 ngày đầu của thai nghén, thường là trước khi người phụ nữ biết mình có thai. Chỉ có khoảng 50% các trường hợp thai nghén có thể lập kế hoạch trước nên tất cả phụ nữ có thể có thai đều cần được cung cấp đủ acid folic.


Vitamin C (acid ascorbic): thuộc nhóm vitamin tan trong nước, rất cần thiết cho sự phát triển và tăng trưởng bình thường của cơ thể. Là một trong nhiều chất chống ôxy hóa siêu mạnh (như vitamin E và beta-caroten).


Sự tăng trưởng và sửa chữa các mô cũng cần có vai trò của vitamin C để giúp xây dựng chất tạo keo (collagen), một loại protein quan trọng để tạo nên da, gân, dây chằng, các mạch máu, sụn, xương, răng, tham gia vào tiến trình lành sẹo và giúp hấp thụ chất sắt.


Nếu không có đủ vitamin C sẽ gây ra bệnh scorbut, da tóc khô, tóc chẻ làm đôi, viêm lợi, lợi chảy máu...


Cơ thể không tạo ra được vitamin C, cũng không dự trữ, do đó hằng ngày cần đưa vào cơ thể những thức ăn giàu vitamin C. Mọi loại rau quả đều có vitamin C. Những nguồn có nhiều vitamin C là chanh, cà chua, xoài, dâu, dứa, ớt bột, ớt đỏ, khoai lang, khoai tây, củ cải xanh... Cần nhớ là nhiệt độ phá hủy vitamin C do đó trong thức ăn đã nấu chín không có vitamin C. Người hút thuốc lá làm mất vitamin C cho nên cần bổ sung hằng ngày.


Dùng quá nhiều vitamin C lại có hại: Trong một số trường hợp bệnh lý, theo chỉ định của thầy thuốc có thể dùng vitamin C liều cao (1.000mg mỗi ngày) nhưng cũng chỉ nên dùng từ 5-10 ngày. Dùng vitamin C liều cao trong thời gian dài có nguy cơ gây sỏi thận hoặc bệnh sỏi thận trở nên nghiêm trọng hơn. Dùng vitamin C theo đường tiêm có thể gây ra “sốc” rất nguy hiểm, thậm chí có thể gây tử vong.


Vitamin E (alpha-tocopherol): là một loại chống ôxy hóa và có thể tan trong mỡ. Những loại vitamin tan trong mỡ được tích trữ trong gan và mô mỡ, cơ bắp chứ không bị đào thải ra ngoài như những vitamin tan trong nước (vitamin C, B6...). Những vitamin tan trong mỡ cũng dễ được hấp thụ vào cơ thể hơn khi trong khẩu phần ăn có mỡ.


Vì vitamin E hấp thụ từ chế độ ăn có thể khó khăn đối với một số người hoặc cần phải có khẩu phần ăn nhiều calo và mỡ cho nên dễ dàng hơn cả là bổ sung vitamin E. Khoảng 20% người Mỹ dùng đều đặn vitamin E bổ sung hoặc dưới dạng polyvitamin hoặc đơn thuần.


Vitamin D (ergocalciferol D2, cholecalciferol D3): điều hòa sự chuyển hóa canxi tới 50 - 80 % nhu cầu cần thiết cho quá trình cốt hóa. Nếu thiếu vitamin D sẽ dẫn tới còi xương.


Vitamin D tích lũy trong cơ thể, sau khi được chiếu nắng thì D2 ở da sẽ chuyển thành D3. Nhưng hoạt động này dao động tùy theo mùa trong năm và giờ trong ngày. Một lượng thừa vitamin D tích lũy trước hết ở gan và được phân giải qua thời gian dài, vì vậy để phòng và điều trị còi xương, có thể cho liều cao vitamin D.


Khi dùng với liều cao D2, D3 gấp hàng nghìn lần liều phòng bệnh có thể gây ngộ độc. Do có tác dụng cố định canxi trong xương nên nếu phụ nữ có thai dùng nhiều vitamin D có thể sinh ra những đứa con có khuyết tật về xương.


Lượng vitamin D trong một số thực phẩm: sữa mẹ 2-4 đơn vị/100g (mùa hè), 0,3-2 đơn vị/100g (mùa đông). Sữa bò, lòng đỏ trứng, gan bò, gan lợn, gan cá thu là những thực phẩm chứa nhiều vitamin D.


Vitamin B6 (pyridoxin): Pyridoxin tan trong nước, tồn tại dưới 3 dạng hóa học chính là pyridoxin, pyridoxal và pyridoxamin. Vitamin B6 thực hiện một loạt chức năng trong cơ thể và là một trong những vitamin chủ yếu để duy trì sức khỏe, ví dụ nó cần thiết cho hơn 100 enzym tham gia vào chuyển hóa chất đạm. Vitamin B6 cũng rất cần thiết cho sự chuyển hóa của hồng cầu và cấu tạo huyết sắc tố.


Cũng không có căn cứ khoa học là dùng vitamin B6 có thể có hiệu quả trong điều trị nôn vào buổi sáng khi có thai.


Vitamin B2 (riboflavin) cần thiết cho thai nghén; nhu cầu cho phụ nữ có thai là 1,8mg mỗi ngày. Tác động sinh hóa của vitamin B2 trước hết đến cấp tế bào, giúp cho sự chuyển hóa acid béo và nhiều acid amin chủ yếu khác.


Khi thiếu vitamin B2 thì có tổn thương ở da và niêm mạc miệng, mũi, hậu môn hay lưỡi, chảy nước mắt, chuột rút, chậm lớn, dễ sảy thai, có thể gây dị dạng ở trẻ sơ sinh. Nếu cơ thể thừa vitamin B2 sẽ loại trừ ra ngoài theo nước tiểu nên không có dấu hiệu thừa vitamin B2.


Vitamin B3 (tức niacine hay vitamin PP có nghĩa là chống lại bệnh Pellagra), cần thiết để đồng hóa tốt đường, đạm và mỡ; tham gia vào nhiều hệ thống enzym, chủ yếu để chuyển hóa tế bào.


Nhu cầu về vitamin B3 cho phụ nữ có thai là 20mg mỗi ngày. Nếu thiếu vitamin B3 thì phát sinh bệnh Pellagra có đặc trưng là tổn thương ở da và niêm mạc...


Không nên bổ sung vitamin A vì nếu thừa có thể gây độc cho thai. 

Những thành phần dinh dưỡng dễ bị thiếu hụt khi mang thai


Khi mang thai, nhu cầu về năng lượng, các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn ở mức bình thường vì nhu cầu này ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự thay đổi về sinh lý của người mẹ (tăng chuyển hóa, tăng tích lũy mỡ, tăng cân, tăng khối lượng tử cung...) còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi.

Riêng với calci, sắt và acid folic nhu cầu người mẹ mang thai cao hơn nhiều so với bình thường (thường cao gấp đôi), do vậy một chế độ ăn uống bình thường sẽ không cấp đủ các thành phần dinh dưỡng và dễ dẫn đến thiếu hụt.


Cơ thể người mẹ có khoảng 1,2kg calci trong đó 99% tập trung ở xương và răng, chỉ có 1% ở trong máu và các tổ chức. Khi mang thai, bào thai trong bụng mẹ cần nhiều calci để phát triển hệ thống xương. Nếu mẹ không hấp thu đủ calci qua đường ăn uống, calci từ cơ thể mẹ sẽ được huy động di chuyển sang thai nhi dẫn đến các hậu quả sau:


- Giảm lượng calci trong máu người mẹ: trong máu người mẹ calci ở dưới dạng ion hóa, calci ion hóa giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì các kích thích thần kinh, cơ. Khi nồng độ calci ion trong máu hạ thấp có thể xuất hiện chuột rút, co giật.


- Nếu quá trình huy động calci từ mẹ sang con diễn ra liên tục dẫn đến người mẹ bị loãng xương.


Một chế độ ăn cân đối hợp lý, giàu calci sẽ giúp thai nhi phát triển tốt, người mẹ không bị thiếu calci. Nhu cầu calci của bà mẹ khi mang thai là 1000-1200 mg/ngày (cao gấp hai lần người bình thường). Calci có nhiều ở trong một số thực phẩm như: sữa và các chế phẩm của sữa; sữa đậu nành cũng có lượng calci tương đối tốt. Tôm, cua, cá là nguồn thực phẩm giàu calci với giá thành rẻ, đặc biệt là tôm, cua, cá nhỏ kho nhừ ăn cả xương là nguồn calci hữu cơ rất tốt, có tỉ lệ hấp thu cao.


Khi mang thai người mẹ dễ bị thiếu máu nhất. Qua số liệu điều tra của Viện Dinh dưỡng có khoảng 60% bà mẹ bị thiếu máu trong thời kỳ thai nghén. Quá trình tạo máu đòi hỏi sự tham gia của nhiều chất dinh dưỡng như chất đạm, sắt, acid folic (folat), vitamin B6, Vitamin B12... Khi mang thai nhu cầu chất sắt và acid folic cần nhiều thêm để tăng tạo máu giúp tăng thể tích máu của người mẹ và giúp thai nhi phát triển. Acid folic ngoài việc tham gia cấu tạo hồng cầu còn giúp cho quá trình phân chia các loại tế bào xảy ra bình thường.


Chất sắt phân bố không đều trong thực phẩm và tỉ lệ hấp thu, sử dụng trong cơ thể rất khác nhau. Thức ăn nguồn gốc động vật nói chung giàu chất sắt và có tỉ lệ hấp thu cao; các loại đậu đỗ cũng có nhiều chất sắt, tỉ lệ hấp thu tương đối cao; các loại ngũ cốc, lương thực đều nghèo chất sắt cho nên biện pháp phòng thiếu máu thiếu sắt cho bà mẹ khi mang thai là tăng thêm các thực phẩm giàu sắt: thịt, trứng, gan, cá, đậu đỗ; đồng thời chú ý ăn thêm rau quả để có đủ vitamin C hỗ trợ hấp thu sắt được tốt.


Trong thời kỳ có thai, nhu cầu acid folic (hay folat) tăng lên rõ rệt. Mức khuyến nghị với phụ nữ có thai là 600mcg/ngày (Phụ nữ bình thường chỉ 280mcg/ngày). Nếu khẩu phần ăn của người mẹ trong giai đoạn mang thai bị thiếu folat sẽ ảnh hưởng đến quá trình tạo máu và phát triển thai nhi bao gồm cân nặng sơ sinh thấp, dị tật ống thần kinh (nứt ống thần kinh, thiếu một phần não, hở cột sống...) dẫn đến nhiều bệnh lý của cơ thể như bại liệt, não úng thủy, thai chết lưu... Nguồn thực phẩm chứa folat rất đa dạng: các loại rau xanh, đậu quả, nước quả gan, các hạt nảy mầm (mầm lúa mì, mầm lúa, giá đỗ...). Folat trong thực phẩm dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ, ánh sáng mặt trời. Trong quá trình chết biến tỉ lệ folat bị mất từ 50-90%. Lượng folat bị hao hụt đáng kể nếu thức ăn để lâu ngoài ánh sáng...


Để giúp có đủ folat trong khẩu phần ăn hàng ngày, các bà mẹ cần ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm, tăng cường ăn rau quả tươi. Thực phẩm mua về cần chế biến ngay và ăn ngay sau khi nấu.


Bên cạnh chế độ ăn uống, để phòng chống thiếu máu các bà mẹ cần uống bổ sung viên sắt folat (loại viên chứa 60mg sắt nguyên tố và 0,4mg acid folic) ngay từ khi bắt đầu có thai đến sau sinh 1 tháng. 

Tháp dinh dưỡng Dinh dưỡng thế nào cho hợp lý trong mùa hè oi bức là một câu hỏi khá hóc búa mà các bà nội trợ thường phải đau đầu để tìm câu trả lời. Đúng là với môi trường nhiệt độ cao, cơ thể sẽ tiêu tốn ít năng lượng hơn vì nhiệt độ môi trường đã cao xấp xỉ thân nhiệt, nhưng cũng chính vì vậy mà cơ thể càng cần nhiều nước hơn vì tăng tiết mồ hôi để giải nhiệt. Do nhu cầu cơ thể cần nạp năng lượng không nhiều và cái nóng hầm hập cùng độ ẩm cao khiến cơ thể mệt mỏi, chán ăn. Vào thời tiết này, về nguyên tắc các nhà dinh dưỡng khuyên bạn nên ăn đủ chất, nhưng hạn chế chất béo (vì cung cấp nhiều năng lượng không cần thiết và dễ gây béo phì), tăng cường hoa quả và uống nhiều nước. Trong những ngày nắng nóng, cần ăn đủ các dưỡng chất và cân bằng, bảo đảm tính đa dạng của thực phẩm. Muốn vậy cần đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm. Nhưng để phù hợp với nhu cầu đặc biệt của mùa nắng nóng, cần điều chỉnh các thành phần đó trong khẩu phần hằng ngày như sau: 1. Glucid Gạo, bún, bánh đa, bánh mì: Tùy mức vận động tiêu hao năng lượng của cơ thể mà có định lượng ăn thích hợp. Tuy nhiên, mùa hè không cần ăn quá nhiều, trung bình 1 chén cơm/bữa với những người không muốn tăng cân. 2. Protein Nhóm thịt cá, gà, trứng, đậu (cả đậu hạt và đậu quả): Thay đổi trong hai bữa ăn chính. Bạn nhớ rằng chất đạm vẫn rất cần để duy trì cơ thể khỏe mạnh, trí óc minh mẫn và có khả năng miễn dịch tốt. Đối với người trưởng thành đang muốn giảm hoặc giữ cân thì việc ăn phối hợp các loại protein nghèo (chất lượng thấp) như trong ngũ cốc, các loại rau củ có thể hỗ trợ cho nhau vừa giúp không tăng cân, giúp làm đầy dạ dầy không bị cảm giác đói, đồng thời cung cấp nhiều vitamin, vi khoáng. Đây chính là lợi điểm của chế độ ăn đa dạng hóa thực phẩm. 3. Vitamin và các chất khoáng, nhóm rau củ và trái cây Mùa hè nên ăn nhiều trái cây và đa dạng loại trái cây vừa để bù nước mất qua đường mồ hôi, giải nhiệt của mao mạch, vừa giúp cung cấp các chất khoáng bị mất vì đây là nguồn cung cấp các chất khoáng tự nhiên rất tốt như: Na, K. Ca, P, Fe, I, Zn, Se... rất cần cho các hoạt động sống của cơ thể. Nên chế biến rau củ ở dạng luộc, salad trộn, hoặc món xào với thật ít dầu mỡ, đồng thời nên tăng cường dạng nấu canh rau củ... 4. Nhóm sữa Khoảng 2 cốc sữa tươi/ngày là mức lý tưởng cho cơ thể. Người phương Tây tách riêng sữa ra một nhóm chính vì tính ưu việt của sữa đối với sức khỏe. Đối với người trưởng thành những loại sữa tươi không đường hoặc có hàm lượng đường và chất béo thấp đặc biệt tốt cho sức khỏe. Nhờ chứa nhiều protein, các vitamin, sữa tươi có khả năng giúp cơ thể hấp thu từ từ các loại dưỡng chất, giúp ổn định lượng đường trong máu và hạn chế sự thèm ăn thái quá, vốn là hai nguyên nhân chính dẫn đến béo phì và tiểu đường. Ngoài ra, sữa tươi còn là nguồn cung cấp canxi và vitamin D rất tốt, giúp xương chắc khỏe. Trên đây là phân nhóm thực phẩm theo các nước phương Tây (Theo Ủy ban thực phẩm và dinh dưỡng của Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Hoa kỳ - Food and Nutrition Board of the National Academy of Sciences). Với một số lớn người Việt Nam trưởng thành, do mất thói quen uống sữa trong một thời gian dài khó khăn của thời kỳ bao cấp, nên men lactase chuyên để tiêu hóa đường lactose trong sữa đã tự thoái triển, hầu như không được sản xuất nữa, dẫn tới uống sữa hay gây sôi bụng, hoặc tiêu chảy. Trong trường hợp đó có thể dùng các loại sữa không có đường lactose (free lactose) khi dùng pha loãng giống sữa tươi và có thể uống mát để tăng khẩu vị. Hoặc có thể tập dần uống sữa tươi theo lượng từ ít đến nhiều trong hàng tuần để cơ thể quen dần với việc tiêu hóa thành phần đường lactose trong sữa, trên thực tế nhiều trường hợp đã áp dụng thành công. Uống sữa chua hằng ngày cũng rất có lợi cho tiêu hóa vì cung cấp thêm men vi sinh cho đường ruột. 5. Dung dịch Người trưởng thành cần uống 1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày, đặc biệt trong những ngày nắng nóng nếu vận động nhiều, ra nhiều mồ hôi cần phải uống nhiều hơn. Các loại đồ uống dịu (Soft drink) rất được ưa chuộng, đặc biệt trong mùa nắng nóng. Bên cạnh sữa, trà và nước khoáng, những loại nước uống dưới đây cũng rất tốt cho sức khỏe trong mùa hè. Nước ép trái cây: Dùng để chỉ chung loại sản phẩm thiên nhiên có được do ép các loại trái cây chín, không lên men. Có loại nước ép trái cây nguyên chất (100%) hoặc thêm chất phụ gia: đường (tối đa 100g/l), acid ascorbic (vitamin C) tối đa 300mg/l, abhydride sulfureux (SO2) tối đa 100mg/l dưới dạng các chất chống oxy hóa E220 và E230, muối (có thể có), gia vị và hương liệu. Ưu điểm: Cung cấp nhiều nước (chiếm 80-94%), giàu muối khoáng, vitamin C (1 ly nước ép trái cây đủ nhu cầu vitamin C cho 1 ngày), các loại vitamin B, A..., chất đường dễ tiêu dưới dạng đường glucose, saccharose, fructose và sorbitol cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể. Khi dùng 100ml nước ép một số loại trái cây tốt cho mùa hè cơ thể sẽ thu được số calo như: nho 76, dứa 54, táo 52, cam 49, bưởi 42... Ngoài ra, nước ép trái cây còn giúp tăng khẩu vị, ngon miệng (rất tốt cho những người đang kém ăn kể cả trẻ em), là chế độ bổ dưỡng nếu uống nhiều từ 3 cốc trở lên mỗi ngày sẽ giúp tăng trọng lượng, hồi phục sau ốm. Lưu ý: Không nên dùng nước ép trái cây trong trường hợp: người đang muốn sút cân, trẻ nhỏ không uống loại có thêm CO2 trên 10mg/l. Với chế độ kiêng muối thì không nên dùng nước ép cà chua, dưa hấu, lê tàu. Đồ uống từ trái cây: Chế biến từ nước ép trái cây pha loãng (chứa trên 12% nước ép trái cây), ngoài ra được thêm: khí carbonic, các acid thực phẩm (citric, lactic...), hương liệu thiên nhiên... Đặc điểm: Hàm lượng các muối khoáng và vitamin ít hơn 10 lần so với nước ép trái cây, giá trị dinh dưỡng thua nước ép trái cây do năng lượng thấp hơn. Tuy vậy, trong mùa nóng bạn vẫn nên sử dụng loại đồ uống này vì có tác dụng giải khát và giá thành rẻ hơn so với nước ép trái cây. Không nên dùng đồ uống từ trái cây trong trường hợp bệnh nhân tiểu đường cần khống chế phần đường. Đồ uống giải khát: Gồm nước ngọt có gaz, các loại Cola (Coca-cola), đồ uống tăng lực (Tonics), Limonade. Không nên uống nhiều những loại nước này ngay trước hay trong bữa ăn bởi lượng đường trong đó có thể làm “ngang dạ” ăn kém ngon. Với những người cần giảm cân, tốt nhất nên hạn chế. Riêng với các loại Cola: Những người mất ngủ, rối loạn nhịp tim, người không thích hợp với cafein và trẻ nhỏ... đều không nên uống.





Dinh dưỡng thế nào cho hợp lý trong mùa hè oi bức là một câu hỏi khá hóc búa mà các bà nội trợ thường phải đau đầu để tìm câu trả lời.




Tháp dinh dưỡng

Đúng là với môi trường nhiệt độ cao, cơ thể sẽ tiêu tốn ít năng lượng hơn vì nhiệt độ môi trường đã cao xấp xỉ thân nhiệt, nhưng cũng chính vì vậy mà cơ thể càng cần nhiều nước hơn vì tăng tiết mồ hôi để giải nhiệt.
Do nhu cầu cơ thể cần nạp năng lượng không nhiều và cái nóng hầm hập cùng độ ẩm cao khiến cơ thể mệt mỏi, chán ăn.

Vào thời tiết này, về nguyên tắc các nhà dinh dưỡng khuyên bạn nên ăn đủ chất, nhưng hạn chế chất béo (vì cung cấp nhiều năng lượng không cần thiết và dễ gây béo phì), tăng cường hoa quả và uống nhiều nước.
Trong những ngày nắng nóng, cần ăn đủ các dưỡng chất và cân bằng, bảo đảm tính đa dạng của thực phẩm. Muốn vậy cần đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm. Nhưng để phù hợp với nhu cầu đặc biệt của mùa nắng nóng, cần điều chỉnh các thành phần đó trong khẩu phần hằng ngày như sau:
1. Glucid
Gạo, bún, bánh đa, bánh mì: Tùy mức vận động tiêu hao năng lượng của cơ thể mà có định lượng ăn thích hợp. Tuy nhiên, mùa hè không cần ăn quá nhiều, trung bình 1 chén cơm/bữa với những người không muốn tăng cân.
2. Protein
Nhóm thịt cá, gà, trứng, đậu (cả đậu hạt và đậu quả): Thay đổi trong hai bữa ăn chính. Bạn nhớ rằng chất đạm vẫn rất cần để duy trì cơ thể khỏe mạnh, trí óc minh mẫn và có khả năng miễn dịch tốt.
Đối với người trưởng thành đang muốn giảm hoặc giữ cân thì việc ăn phối hợp các loại protein nghèo (chất lượng thấp) như trong ngũ cốc, các loại rau củ có thể hỗ trợ cho nhau vừa giúp không tăng cân, giúp làm đầy dạ dầy không bị cảm giác đói, đồng thời cung cấp nhiều vitamin, vi khoáng. Đây chính là lợi điểm của chế độ ăn đa dạng hóa thực phẩm.
3. Vitamin và các chất khoáng, nhóm rau củ và trái cây
Mùa hè nên ăn nhiều trái cây và đa dạng loại trái cây vừa để bù nước mất qua đường mồ hôi, giải nhiệt của mao mạch, vừa giúp cung cấp các chất khoáng bị mất vì đây là nguồn cung cấp các chất khoáng tự nhiên rất tốt như: Na, K. Ca, P, Fe, I, Zn, Se... rất cần cho các hoạt động sống của cơ thể.
Nên chế biến rau củ ở dạng luộc, salad trộn, hoặc món xào với thật ít dầu mỡ, đồng thời nên tăng cường dạng nấu canh rau củ...
4. Nhóm sữa
Khoảng 2 cốc sữa tươi/ngày là mức lý tưởng cho cơ thể. Người phương Tây tách riêng sữa ra một nhóm chính vì tính ưu việt của sữa đối với sức khỏe.
Đối với người trưởng thành những loại sữa tươi không đường hoặc có hàm lượng đường và chất béo thấp đặc biệt tốt cho sức khỏe.
Nhờ chứa nhiều protein, các vitamin, sữa tươi có khả năng giúp cơ thể hấp thu từ từ các loại dưỡng chất, giúp ổn định lượng đường trong máu và hạn chế sự thèm ăn thái quá, vốn là hai nguyên nhân chính dẫn đến béo phì và tiểu đường.
Ngoài ra, sữa tươi còn là nguồn cung cấp canxi và vitamin D rất tốt, giúp xương chắc khỏe.
Trên đây là phân nhóm thực phẩm theo các nước phương Tây (Theo Ủy ban thực phẩm và dinh dưỡng của Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Hoa kỳ - Food and Nutrition Board of the National Academy of Sciences).
Với một số lớn người Việt Nam trưởng thành, do mất thói quen uống sữa trong một thời gian dài khó khăn của thời kỳ bao cấp, nên men lactase chuyên để tiêu hóa đường lactose trong sữa đã tự thoái triển, hầu như không được sản xuất nữa, dẫn tới uống sữa hay gây sôi bụng, hoặc tiêu chảy.
Trong trường hợp đó có thể dùng các loại sữa không có đường lactose (free lactose) khi dùng pha loãng giống sữa tươi và có thể uống mát để tăng khẩu vị.
Hoặc có thể tập dần uống sữa tươi theo lượng từ ít đến nhiều trong hàng tuần để cơ thể quen dần với việc tiêu hóa thành phần đường lactose trong sữa, trên thực tế nhiều trường hợp đã áp dụng thành công.
Uống sữa chua hằng ngày cũng rất có lợi cho tiêu hóa vì cung cấp thêm men vi sinh cho đường ruột.
5. Dung dịch
Người trưởng thành cần uống 1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày, đặc biệt trong những ngày nắng nóng nếu vận động nhiều, ra nhiều mồ hôi cần phải uống nhiều hơn.
Các loại đồ uống dịu (Soft drink) rất được ưa chuộng, đặc biệt trong mùa nắng nóng. Bên cạnh sữa, trà và nước khoáng, những loại nước uống dưới đây cũng rất tốt cho sức khỏe trong mùa hè.
Nước ép trái cây: Dùng để chỉ chung loại sản phẩm thiên nhiên có được do ép các loại trái cây chín, không lên men.
Có loại nước ép trái cây nguyên chất (100%) hoặc thêm chất phụ gia: đường (tối đa 100g/l), acid ascorbic (vitamin C) tối đa 300mg/l, abhydride sulfureux (SO2) tối đa 100mg/l dưới dạng các chất chống oxy hóa E220 và E230, muối (có thể có), gia vị và hương liệu.
Ưu điểm: Cung cấp nhiều nước (chiếm 80-94%), giàu muối khoáng, vitamin C (1 ly nước ép trái cây đủ nhu cầu vitamin C cho 1 ngày), các loại vitamin B, A..., chất đường dễ tiêu dưới dạng đường glucose, saccharose, fructose và sorbitol cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể.
Khi dùng 100ml nước ép một số loại trái cây tốt cho mùa hè cơ thể sẽ thu được số calo như: nho 76, dứa 54, táo 52, cam 49, bưởi 42...
Ngoài ra, nước ép trái cây còn giúp tăng khẩu vị, ngon miệng (rất tốt cho những người đang kém ăn kể cả trẻ em), là chế độ bổ dưỡng nếu uống nhiều từ 3 cốc trở lên mỗi ngày sẽ giúp tăng trọng lượng, hồi phục sau ốm.
Lưu ý: Không nên dùng nước ép trái cây trong trường hợp: người đang muốn sút cân, trẻ nhỏ không uống loại có thêm CO2 trên 10mg/l. Với chế độ kiêng muối thì không nên dùng nước ép cà chua, dưa hấu, lê tàu.
Đồ uống từ trái cây: Chế biến từ nước ép trái cây pha loãng (chứa trên 12% nước ép trái cây), ngoài ra được thêm: khí carbonic, các acid thực phẩm (citric, lactic...), hương liệu thiên nhiên...
Đặc điểm: Hàm lượng các muối khoáng và vitamin ít hơn 10 lần so với nước ép trái cây, giá trị dinh dưỡng thua nước ép trái cây do năng lượng thấp hơn. Tuy vậy, trong mùa nóng bạn vẫn nên sử dụng loại đồ uống này vì có tác dụng giải khát và giá thành rẻ hơn so với nước ép trái cây.
Không nên dùng đồ uống từ trái cây trong trường hợp bệnh nhân tiểu đường cần khống chế phần đường.
Đồ uống giải khát: Gồm nước ngọt có gaz, các loại Cola (Coca-cola), đồ uống tăng lực (Tonics), Limonade.
Không nên uống nhiều những loại nước này ngay trước hay trong bữa ăn bởi lượng đường trong đó có thể làm “ngang dạ” ăn kém ngon. Với những người cần giảm cân, tốt nhất nên hạn chế.
Riêng với các loại Cola: Những người mất ngủ, rối loạn nhịp tim, người không thích hợp với cafein và trẻ nhỏ... đều không nên uống.